Tin ảnh/video

Thăm dò ý kiến

  Quảng bá hội viên
Cổng TT Bộ KH&ĐT
Báo điện tử Bizlive
Website Cục Đầu tư nước ngoài
Dự án TCV-Vafie
Diễn đàn Cạnh tranh Quốc gia
nhadautu.vn
vietfair
vietfair
Thông tin nổi bật » Tin FDI »
Số lượt xem: 5651
Gửi lúc 04:12' 27/12/2017
CẦN CÓ ĐỊNH HƯỚNG VÀ CHÍNH SÁCH MỚI VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

 I.                  Thành tựu  

   Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp nhà nước sử dụng nguồn lực quốc gia lớn nhất đang trong quá trình cơ cấu lại chưa có hiệu quả, nên không còn là động lực tăng trưởng chủ yếu nữa; kinh tế tư nhân phần lớn là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa tuy đã gia tăng nhanh chóng về số lượng, hình thành một số tập đoàn lớn nhưng vẩn chưa trở thành động lực tăng trưởng mạnh mẽ, thì từ năm 1991 đến nay khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài trở thành động lực tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp ngày càng nhiều vào giá trị sản lượng công nghiệp, dịch vụ, xuất nhập khẩu, thu ngân sách nhà nước và tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

    Vốn FDI thực hiện: 

-         1991- 2000 đạt 19,462 tỷ USD.

-         2001- 2010 đạt 58,497 tỷ USD, bằng 3 lần thập niên trước đó.

-         2011- 2016 đạt  84 tỷ USD, bằng 4,55 lần giai đoạn 1991- 2000 và 1,43 lần 10 năm trước đó.

 

    Trong 26 năm từ 1991 đến 2017 nước ta đã thu hút được 161,959 tỷ USD vốn FDI thực hiện. Tính bình quân mỗi năm giai đoạn 1991- 2000 đạt 1,95 tỷ USD, 10 năm tiếp theo đạt 5,85 tỷ USD, 7 năm gần đây  là 12 tỷ USD, bằng 6,1 lần của giai đoạn 1991- 2000 và 2,09 lần của giai đoạn 2001- 2010.

   Giai đoạn 1991- 2000 phần lớn dự án FDI có quy mô nhỏ, vốn đầu tư trung bình mỗi dự án khoảng 4 triệu USD, tập trung vào may mặc, dày dép, đồ uống, thực phẩm, có một số dự án lớn thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, khách sạn, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm của những tập đoàn kinh tế lớn.

   Giai đoạn 2001- 2010 sau khi khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, từ 2005 đã có thêm nhiều dự án lớn công nghệ cao, dịch vụ hiện đại của Intel, Nokia, Canon, Samsung, LG làm tăng thêm tỷ trọng của khu vực FDI trong giá trị sản lượng công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu.

   Giai đoạn 2011- 2016 có thêm nhiều dự án quy mô lớn với vốn đầu tư từ 1 tỷ USD trở lên đã làm cho Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất một số sản phẩm công nghệ cao của thế giới như smartphone, mobilphone, máy tính bảng, công nghệ thông tin.

   Năm 2016 khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 50% giá trị sản lượng công nghiệp, trong đó dầu khí, điện tử, smartphone, mobilphone, linh kiện điện tử, thức ăn gia súc, đồ uống... có tỷ trọng cao hơn nhiều; chiếm trên 72% tổng kim ngạch xuất khẩu mà mặt hàng chủ lực là hàng chế tạo có giá trị gia tăng cao, xuất siêu khoảng 25% kim ngạch xuất khẩu của khu vực này, chẳng những bù đắp được nhập siêu của doanh nghiệp trong nước mà còn tạo ra xuất siêu gần 3 tỷ USD; đóng góp khoảng 20% thu nội địa và 20% GDP.

    Đối với những địa phương thu hút được nhiều dự án FDI như Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh hóa ở miền Bắc, Bình Dương, Đồng Nai ở miền Nam thì đóng góp của khu vực này còn lớn hơn nhiều, làm thay đổi cơ bản cơ cầu kinh tế của từng tỉnh, thành phố, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước phát triển có hiệu quả kinh tế cao, người dân trong vùng trở nên giàu có hơn các địa phương lân cận; điển hình là Bắc Ninh nhờ thu hút có hiệu quả FDI mà chỉ trong 5 năm gần đây đã biến đổi cơ bản, từ tỉnh nông nghiệp trở thành tỉnh công nghiệp, hiện nông nghiệp chiếm khoảng 8%, công nghiệp và dịch vụ chiếm 82%. Câu chuyện hàng ngày của những địa phương này không phải lo xóa đói giảm nghèo, mà là giải quyết các vấn đề xã hội của công nghiệp hóa, lao động nhập cư với thu nhập ngày càng tăng đòi hỏi nhà ở, trường học, trung tâm  thương mại, khu vui chơi giải trí, đã có đủ điều kiện về vốn đầu tư, ý tưởng mới để xây dựng đô thị thông minh hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao và hoàn thành xây dựng nông thôn mới.

 

    Những con số thống kê trên đây thể hiện quy mô vốn FDI vào nước ta ngày càng lớn, đồng thời chất lượng và hiệu quả kinh tế- xã hội của khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài ngày càng cao hơn.

   30 năm là thời gian đủ dài để khẳng định rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước mở cữa để hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có thu hút vốn đầu tư quốc tế đồng thời với chủ trương đổi mới theo kinh tế thị trường là đúng đắn và kịp thời để đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế- xã hội sớm hơn dự kiến, tạo tiền đề để chấn hưng đất nước theo các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.

II.               Vấn đề và quan điểm

 Thành tưu của FDI đã được thể hiện trong việc thay đổi cơ bản bộ mặt đất nước, cải thiện đời sống các tầng lớp dân cư, được khẳng định trong các văn bản của đảng và nhà nước, trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học; tuy vậy một số người có cách tiếp cận từ chuyển gia, trốn thuế, lậu thuế, gây ô nhiễm môi trường, tranh chấp lao động đã đưa ra các nhận định tiêu cực như

-“85% công nghệ của doanh nghiệp FDI là công nghệ trung bình (!)”.

-“Phần lớn doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường (!)”.

-“ Doanh nghiệp FDI chèn lấn doanh nghiệp trong nước (!)”.

- “Doanh nghiệp FDI đóng góp quá ít vào thu ngân sách, GDP (!)’...

 Trước mỗi vấn đề kinh tế- xã hội có những ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều là hiẹn tượng bình thường. Tuy vậy, chân lý chỉ có một, mà để đạt đến chân lý thì cần dựa vào thực tiễn trên cơ sở tổng kết, đánh giá băng phương pháp khoa học, với quan điểm khách quan, không định kiến thì mới có thể đưa ra nhận xét phù hợp với tình hình thực tế được.Phần I đã trình bày thành quả của 30 năm thực hiện Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài với những bằng chứng thuyết phục.

 Để nhận thức đúng những vấn đề phát sinh gắn với FDI cần có cách tiếp cận khoa học. Ví dụ lấy đâu ra con số 85% công nghệ là trung bình, trong khi công nghệ gắn với từng ngành, như khai thác dầu khí là ngành thu được nhiều thành quả trong thu hút FDI, hàng chục tập đoàn hàng đầu thế giới như BP, BHP, Total, Shell đã tiến hành thăm dò tại thềm lục địa Việt Nam với công nghệ hiện đại; viễn thông là ngnahf kinh tế phát triển nhanh nhất và đã đạt đến trình độ các nước tiền tiến trong khu vực bắt đầu từ hợp tác giữa VNPT với Telstra của Australya, nhờ đó mà có công nghệ hiện đại cả khi Mỹ còn cấm vận đối với Việt Nam; cả trong ngành dệt may thì khâu may là công nghệ trung bình, còn khâu thiết kế và cắt là công nghệ hiện đại, Theo tập đoàn dệt may Việt Nam thì năng suất lao động của nước ta thuộc lợi cao nhất trong các nước có kim ngạch xuất khẩu lớn trên thế giới. Đã gọi là nhà kinh tế thì cần có dẩn chứng từ các số liệu thống kê, các tư liệu đáng tin cậy, không thể đưa ra kết luận cảm tính được.

Nổi lên gần đây là luận điểm cho rằng doanh nghiệp FDI chèn lấn doanh nghiệp trong nước; nhưng chư thấy ai chứng minh trường hợp cụ thể trên thị trường. Có phải vì chèn ép doanh nghiệp trong nước mà doanh nghiệp FDI chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu không (?). Hãy nhìn con số thống kê 8 tháng năm 2017, trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 16 tỷ USD thì doanh nghiệp FDI xuất siêu 14 tỷ USD, do đó cả nước chỉ nhập siêu hơn 2 tỷ USD. Thử hỏi nêu không có doanh nghiệp FDI thi lấy đầu ra 16 tỷ USD để doanh nghiệp trong nước nhân siệu từ nguyên vật liệu đến máy mọc thiết bị và hàng tiêu dùng (?).

   Những vấn đề tiêu cực khác như ô nhiễm môi trường, trốn thuế, lậu thuế, tranh chấp lao động cũng cần được nghiên cứu gắn với mặt trái của kinh tế thị trường,  chứ không phải chỉ là của khu vực FDI, trong đó có hiệu năng quản lý nhà nước, bởi vì chừng nào sự yếu kém của bộ máy nhà nước trong việc hình thành thể chế, hướng dẫn và kiển tra, kịp thời phát hiện và xử lý thì chừng đó các doanh nghiệp kể cả trong nước và FDI còn lợi dụng để vi phạm luật pháp.

III.           Định hướng chính sách mới

 

  Nước ta đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp), vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới đang dược nâng cao, môi trường chính trị và kinh tế vĩ mô ổn định, trong khi thế giới khá bất định, biến động khó lường, một số nước như Trung Quốc đang gặp khó khăn về kinh tế- xã hội cũng như thu hút FDI.

  Theo số liệu thông kê, đến giữa năm 2017 nước ta có trên 640 ngàn doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động, trong đó có hàng trăm tập đoàn kinh tế lớn như Vingroup, Sungroup, Vinamilk, Trumilk, Hoàng Anh- Gia Lai, Tân Tạo chẳng những đang thực hiện nhiều dự án quan trọng ở trong nước mà đã đầu tư ra một số nước; từ đó đặt ra vấn đề lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án phát triển cần ưu tiên cho doanh nghiệp trong nước nếu đạt được tiêu chí tương tự với doanh nghiệp FDI.

Theo Báo cáo của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Trường đại học Cornell và Viện nghiên cứu INSTEAD công bố ngày15/6, Việt Nam được xếp hạng thứ 47/127 về đổi mới sáng tạo toàn cầu, tăng 12 bậc so với 2016; trong ASEAN, Việt Nam đứng trên Thái Lan, được đánh giá có thế mạnh đầu ra tri thức và công nghệ; chỉ số phức tạp/đa dạng của thị trường; chỉ số phức tạp/đa dạng kinh doanh; chỉ số đầu ra sáng tạo và chỉ số tăng trưởng đầu tư cho giáo dục…

    Ngày 4/5/2017 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trên cơ sở đó các bộ đang nghiên cứu điều chỉnh chiến lược phát triển ngành và lĩnh vực ưu tiên để tạo dụng cơ hội mới đẩy nhanh công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại.

    Về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn kinh tế thế giới nhận định: “Chúng ta sẽ đến với sự kết hợp giữa thế giới thực, thế giới ảo và thế giới sinh vật. Những công nghệ mới này sẽ gây ảnh hưởng to lớn đến mọi luật lệ, mọi nền kinh tế, mọi ngành công nghiệp, đồng thời cũng thách thức ý niệm của chúng ta về vai trò thực sự của con người”. Ông cũng cảnh báo các công nghệ mới sẽ dẫn đến những thay đổi về quyền lực, gây ra những lo ngại về an ninh cũng như về khoảng cách giàu nghèo, nếu không được kiểm soát tốt.

  Trên cơ sở đó, cần hình thành định hướng và chính sách mới về FDI:

   1)Trong khi vẩn coi trọng các ngành nghề thu hút nhiều lao động ở những địa phương còn kém phát triển thì cần ưu tiên thu hút FDI một số ngành và sản phẩm công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, điện tử, Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), điện toán đám mây,  phân tích dữ liệu lớn (SMA), cơ khí chế tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học, vật liệu mới, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển, chăm sóc sức khỏ cộng đồng...

  2) Trong khi vẩn coi trọng thu hút FDI từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì coi trọng hơn vốn đầu tư từ các tập đoàn kinh tế (TNCs) hàng đầu thế giới trong ngành và lĩnh vực công nghệ cao để tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng lớn và chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc Tập đoàn công nghiệp ddienj tử hàng đầu thế giới- Samsung chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất điện thoại di động, smarphone, máy tính bảng, năm 2017 dự kiến kim ngạch xuất khẩu đạt 50 tỷ USD, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã minh chứng tính hấp dẫn của nước ta, đồng thời tác động của việc thu hút TNCs đối với kinh tế- xã hội/

  3) Điều chỉnh chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư theo hướng gắn với định hướng phát triển kinh tế- xã hội ở từng vùng kinh tế, từng địa phương. Đối với các thành phố đã phát triển như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng thì cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ chất lượng cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường thế giới, thực sự là đầu tàu kinh tế của cả nước hoặc trong từng vùng lãnh thổ; kiên quyết không lựa chọn dự án FDI tham dụng nhiều lao động, gây ô nhiễm môi trường, phát thải khí nhà kính. Đối với các địa phương, vùng kinh tế còn kém phát triển thì có thể lựa chọn dự án thâm dụng lao động như dệt nhuộm, may, da dày nhưng phải bảo đảm đầu tư bảo vệ môi trường.

  4) Coi trọng chính sách kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước để khắc phục nhược điểm tác động lan tỏa của doanh nghiepj FDI còn hạn chế; phát triển công nghiệp hổ trợ, tham gia chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu, từ đó nâng cao tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp trong nước, hướng đến mục tiêu 1 trieuj doanh nghiệp tư nhân vào năm 2020, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô lơn hơn nhiều lần hiện tại; có hàng trăm tập đoàn kinh tế tư nhân hoặc hỗn hợp tầm cỡ khu vực và thế giới.

    Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương và chỉ đạo ráo riết để tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng hơn; được nhà đầu tư, doanh nghiệp, người dân, dư luân trong nước và quốc tế đánh giá cao; tuy vậy vẩn chưa đáp ứng được đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn và có hiệu  quả hơn. Hai nút thắt chính cần cởi bỏ là bộ máy nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức; bộ máy thì cồng kềnh, kém hiệu năng, công chức thì thừa nhưng thiếu năng lực và lương tâm nghề nghiệp; cả hai đang cản trở quá trình phát triển của doanh nghiệp. Đó là hai lực cản cần được giải quyết để định hướng và chinh sách mới về FDI được thực hiện có kết quả./.

Tác giả: GS.TSKH NGUYỄN MẠI
Nguồn tin: Đăng trên tạp chí kinh tế dự báo tháng 10/2017

Các tin mới



Các tin khác