Kinh tế tư nhân cần lớn lên trong hệ sinh thái liên kết với FDI
ĐÌNH VŨ -
04/09/2026 11:17
04/09/2026 11:17
TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch VAFIE cho rằng, để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần hình thành một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và khu vực FDI, trong đó các tập đoàn tư nhân lớn có thể đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tại Hội thảo "Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính kinh tế tư nhân: Động lực cho tăng trưởng kinh tế", vấn đề được nhiều chuyên gia đặt ra không chỉ là làm thế nào để huy động thêm nguồn lực cho khu vực tư nhân, mà quan trọng hơn là làm thế nào biến nguồn lực đó thành năng lực sản xuất, công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng.
Trong bức tranh đó, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái liên kết giữa ba khu vực doanh nghiệp: tư nhân trong nước, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE). Ảnh: NĐT
Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, FDI cần được định hướng vào những lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, hạ tầng xanh, đồng thời gắn với các cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển doanh nghiệp cung ứng trong nước. Khi các tập đoàn tư nhân lớn trong nước đủ năng lực trở thành những "đầu tàu", doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.
Theo đó, mục tiêu thu hút FDI trong giai đoạn mới không nên chỉ được nhìn qua quy mô vốn đăng ký hay số lượng dự án, mà phải hướng tới nâng cao năng lực sản xuất, tạo liên kết và lan tỏa với khu vực kinh tế trong nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thực tế 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam đối với dòng vốn quốc tế vẫn rất lớn. Tổng vốn FDI đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước; vốn FDI thực hiện ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% và là mức cao nhất trong 5 năm. Đáng chú ý, dòng vốn mới có xu hướng dịch chuyển vào bán dẫn, công nghệ số và hạ tầng xanh.
TS. Nguyễn Anh Tuấn cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới mục tiêu FDI đăng ký 40-50 tỷ USD mỗi năm và vốn thực hiện 30-40 tỷ USD/năm trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý không nhất thiết phải chạy đua theo tốc độ tăng trưởng vốn FDI. Thay vào đó, điều quan trọng là nâng cao chất lượng dòng vốn và khả năng lan tỏa vào nền kinh tế trong nước.
Theo tính toán, cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội sẽ hợp lý nếu khu vực Nhà nước chiếm khoảng 25%, khu vực tư nhân trong nước khoảng 55% và FDI khoảng 20%. Năm 2025, tỷ lệ tương ứng là 27,2%, 56,5% và 16,3%. Đáng chú ý, dù chiếm tỷ trọng thấp hơn về vốn đầu tư, khu vực FDI đóng góp tới 21,2% tăng trưởng GDP và 38% ngân sách Nhà nước.
Những con số này cho thấy FDI vẫn là một nguồn lực quan trọng, nhưng không thể thay thế nguồn lực nội sinh. Trong chiến lược tăng trưởng dài hạn, nguồn lực trong nước phải giữ vai trò quyết định, còn nguồn lực nước ngoài là quan trọng. Vì vậy, bài toán đặt ra không phải là lựa chọn giữa kinh tế tư nhân và FDI, mà là làm thế nào để hai khu vực này bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.
Từ "ba khu vực" sang một chuỗi liên kết
Chia sẻ ý kiến tại Hội thảo, ông Tạ Vũ Duy Anh, đại diện Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, cũng chỉ ra một nghịch lý đáng chú ý: khu vực doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tỷ trọng rất lớn về số lượng và đóng góp khoảng 51% GDP trong giai đoạn 2021-2025 nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, năng lực tài chính, công nghệ và quản trị còn hạn chế. Trong khi đó, doanh nghiệp FDI có đóng góp lớn cho xuất khẩu và tăng trưởng nhưng mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nhà cung ứng Việt Nam chưa tương xứng với kỳ vọng.
Ông Tạ Vũ Duy Anh, đại diện Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính. Ảnh: NĐT
"Khoảng cách này nếu không được thu hẹp sẽ khiến nền kinh tế tồn tại song song những "ốc đảo" doanh nghiệp: doanh nghiệp FDI hoạt động trong chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Nhà nước giữ những lĩnh vực, ngành then chốt, còn phần lớn doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn loay hoay ở các khâu có giá trị gia tăng thấp. Đây chính là lý do yêu cầu liên kết giữa ba khu vực doanh nghiệp trở nên cấp thiết", đại diện Bộ Tài chính nhấn mạnh.
Theo đó, thay vì để ba khu vực doanh nghiệp phát triển tương đối tách biệt, cần hình thành các chuỗi liên kết trong đó doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn đóng vai trò hạt nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào các công đoạn cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, nghiên cứu, bảo trì và logistics.
Nếu làm được điều này, sự hiện diện của FDI sẽ không chỉ được đo bằng số USD vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu, mà còn bằng số lượng nhà cung ứng Việt Nam được hình thành, tỷ lệ nội địa hóa, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng và lượng công nghệ được chuyển giao.
Đồng thời, sự lớn mạnh của các tập đoàn tư nhân trong nước cũng không chỉ tạo thêm một khu vực kinh doanh có quy mô lớn, mà có thể trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp FDI và hàng chục nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước.
Không chỉ cần thêm doanh nghiệp, mà cần doanh nghiệp lớn
Một vấn đề khác được các chuyên gia đặt ra tại Hội thảo là vấn đề chất lượng của khu vực tư nhân.
Mục tiêu có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 là một mục tiêu quan trọng, nhưng số lượng không thể là thước đo duy nhất. Chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển theo vòng đời: từ hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vừa thành doanh nghiệp lớn và từng bước hình thành các tập đoàn tư nhân có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Đây cũng là mắt xích quan trọng trong chiến lược kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước. Một nền kinh tế có hàng triệu doanh nghiệp nhưng thiếu những doanh nghiệp đầu tàu sẽ khó hình thành được các chuỗi giá trị đủ lớn. Ngược lại, một số tập đoàn tư nhân có năng lực tài chính, công nghệ và quản trị tốt có thể đóng vai trò dẫn dắt, đặt hàng, hỗ trợ tiêu chuẩn, công nghệ và thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Khi đó, doanh nghiệp tư nhân không chỉ là bên nhận hỗ trợ, mà trở thành chủ thể dẫn dắt tăng trưởng.
Từ góc nhìn của VAFIE, TS. Nguyễn Anh Tuấn cho rằng nhiệm vụ trong giai đoạn tới là đồng thời nâng cao chất lượng dòng vốn FDI và nâng cao năng lực nội sinh của khu vực tư nhân.
Với FDI, cần chuyển từ ưu đãi đầu vào sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả đầu ra, như chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, nâng tỷ lệ nội địa hóa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Với kinh tế tư nhân, cần mở rộng không gian tham gia vào các dự án lớn về hạ tầng, năng lượng, logistics, hạ tầng số, y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và các ngành công nghiệp mới. Đây vừa là cách huy động nguồn lực xã hội, vừa là con đường để doanh nghiệp tích lũy vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Hai chính sách này cần được đặt trong cùng một hệ sinh thái. Một mặt, FDI mang đến vốn, công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Mặt khác, doanh nghiệp tư nhân trong nước cần đủ lớn, đủ mạnh để hấp thụ công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng và giữ lại ngày càng nhiều giá trị gia tăng trong nền kinh tế.
TS. Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh, niềm tin của nhà đầu tư không chỉ đến từ các cam kết chính sách mà được củng cố bằng kết quả cải cách thể chế, môi trường đầu tư và những hành động cụ thể của chính quyền các cấp.
Nếu thể chế được mở rộng, thị trường vốn được khơi thông, doanh nghiệp tư nhân có không gian phát triển và FDI được định hướng vào những lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao, ba khu vực doanh nghiệp sẽ không còn phát triển theo những "đường ray" riêng biệt. Khi đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không chỉ dựa vào việc thu hút thêm vốn, mà dựa nhiều hơn vào năng lực sản xuất, năng suất, công nghệ và sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam – nền tảng quan trọng để hình thành những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Bà Hương Vũ, Tổng Giám đốc EY Việt Nam cho biết, hiện nay nhiều quốc gia bên cạnh các ưu đãi về thuế còn áp dụng các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp thoả mãn điều kiện nhất định. Phương thức ưu đã này đa dạng, linh hoạt, trọng điểm hơn, đồn
Hỗ trợ bằng tiền mặt (Cash grant) sẽ giúp các doanh nghiệp bù đắp một phần nghĩa vụ thuế tăng lên, giúp họ đẩy mạnh đầu tư vào R&D, tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam.
Các động lực tăng trưởng nội tại và một số chương trình nghị sự phát triển chưa từng có tiền lệ sẽ tạo ra bối cảnh đầu tư khác biệt, khẳng định được vị thế của Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất khu vực.